Xuất gạo, lại nhập ngô khoai!

Cập nhật: 09:30 | 02/08/2016 Theo dõi KTCK trên

Mỗi năm, cả nước phải nhập khẩu trên 8 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương, lúa mì, bột cá, bột xương… có tổng trị giá khoảng 3 tỷ USD. Đây là một nỗi buồn lớn khi vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn chưa phải là điểm mạnh ở một quốc gia nông nghiệp như Việt Nam.


Trong một lần trao đổi với Thời báo Kinh Doanh, ông Jorge Becerra, Trưởng Đại diện kiêm Giám đốc Điều hành ngành hàng thức ăn chăn nuôi Cargill tại Việt Nam, cho biết dù nông nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn do tình trạng hạn hán, nhưng về lâu dài, Cargill sẽ tiếp tục đầu tư vào sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi do nhận thấy những tiềm năng tăng trưởng tốt của ngành này.

“Đói” ngô, đậu tương

Thực tế cho thấy tăng trưởng của ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam vẫn rất tốt (đạt mức tăng 13 – 15%/năm, doanh số hàng năm lên tới 6 tỷ USD) mặc cho ngành chăn nuôi nội địa gặp khó khăn về cạnh tranh với sự tấn công ồ ạt của các loại thịt ngoại trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này chủ yếu đến từ sự chi phối của khối ngoại (đang nắm giữ 65-70% thị phần).

Kèm theo đó là một khối lượng lớn nguồn nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương, lúa mì, bột xương thịt, bột cá…được các doanh nghiệp FDI gia tăng nhập khẩu vào Việt Nam trong bối cảnh nguồn nguyên liệu trong nước không đủ để đáp ứng cho họ.

Thống kê cho thấy, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc vào nhập khẩu tới 50 – 70% nguồn nguyên liệu. Trong đó, các loại nguyên liệu giàu đạm như khô dầu đậu tương, bột xương thịt, bột cá nhập khẩu 90% và khoáng chất, vitamin nhập tới 100%.

Đây là một trong những nguyên nhân chính để khối doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi vin vào để tăng giá sản phẩm, hoặc chậm trễ trong việc giảm giá thành. Mặc dù vậy, khi PV Thời báo Kinh Doanh đề cập thẳng chuyện này, ông Jorge Becerra, vị lãnh đạo Cargill tại Việt Nam, vẫn một mực phủ nhận việc thao túng giá.

Chỉ riêng với hạt ngô, trong nửa đầu năm 2016, Việt Nam đã chi hơn 14.650 tỷ đồng (tương đương khoảng 650 triệu USD) để nhập 3,3 triệu tấn để làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Năm 2015, đã có 7,7 triệu tấn ngô ngoại được nhập về Việt Nam với tổng giá trị hơn 1,6 tỷ USD, tương đương khoảng 37.140 tỷ đồng.

xuat gao lai nhap ngo khoai


Ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi phụ thuộc 50 – 70% nguồn nguyên liệu nhập khẩu


Còn với đậu tương, tuy chưa có số liệu nhập khẩu chính thức từ đầu năm 2016 đến nay, nhưng theo dự báo mới đây, Việt Nam có thể sẽ trở thành một trong những nước nhập khẩu đậu tương nhiều nhất thế giới, có khả năng chạm đỉnh 5,2 triệu tấn vào năm 2017 so với 2,28 triệu tấn vào năm 2012.

Riêng số liệu của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT), chỉ trong vòng 5 tháng đầu năm 2016, Việt Nam đã chi 1,16 tỷ USD nhập khẩu thức ăn và nguyên liệu.

Theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, ngô trong nước chỉ đáp ứng 50% nhu cầu sản xuất chế biến thức ăn chăn nuôi trong nước. Do đó, chuyện phải đi nhập khẩu là điều đương nhiên.

Nên sớm quy hoạch vùng nguyên liệu

Không những vậy, đến khi Việt Nam chính thức tham gia TTP, khi thuế nhập khẩu áp mức 0%, như dự báo, không chỉ hạt ngô mà sản lượng các sản phẩm nông nghiệp được nhập vào Việt Nam để làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi sẽ còn nhiều hơn.

Do vậy, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của nhà cung cấp nước ngoài khi thuế nhập khẩu và các biện pháp phi thuế quan được cắt giảm và gỡ bỏ.

Giới chuyên gia nhận định có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này. Sản lượng ngô trong nước liên tục tăng lên hàng năm, nhưng nhu cầu thức ăn chăn nuôi tăng còn mạnh hơn (mỗi năm cần 18 – 20 triệu tấn).

Điểm bất cập nữa là hiện nay, giá ngô nhập khẩu còn thấp hơn giá sản xuất trong nước. Cụ thể, giá thành ngô nhập khẩu về đến Việt Nam khoảng 5.200 đồng/kg, trong khi trên thị trường Việt Nam, hạt ngô do nông dân sản xuất ra có giá bán 6.000- 6.500 đồng/kg.

Điều này được lý giải là do năng suất ngô bình quân trên thế giới đạt 9-10 tấn/ha, trong khi năng suất của Việt Nam hiện nay chỉ bằng một nửa, khoảng 4,8 tấn/ha.

Điều đáng nói, Việt Nam hoàn toàn có thể thúc đẩy những cây trồng này phát triển, giảm áp lực phụ thuộc nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu, nhưng hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập trong quản lý, tổ chức sản xuất.

Do đó, ngoài tăng cường chuyển đổi diện tích trồng lúa, mấu chốt là phải thay đổi cách thức tổ chức sản xuất sao cho khoa học và đột phá ở khâu giống để vừa tăng năng suất, chất lượng cây trồng trong nước, vừa hạ giá thành sản xuất xuống.

Để ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tránh phụ thuộc vào hàng nhập khẩu, giới chuyên gia khuyến nghị Nhà nước cần dành quỹ đất để trồng cây thức ăn chăn nuôi, thay dần thức ăn nhập khẩu. Đồng thời, tăng cường liên kết chuỗi sản xuất, giúp giảm chi phí trung gian, ổn định đầu vào đầu ra.

Theo ông Phạm Đức Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam, để chủ động nguồn nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi, Nhà nước cần quy hoạch vùng nguyên liệu ở những địa phương có lợi thế về trồng ngô, lúa, đậu tương, đồng thời cải tiến bộ giống để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.





Theo Thời báo Kinh doanh

Tin liên quan