Giá thép hôm nay 22/11/2022: Thị trường có phần "kém sắc"

Cập nhật: 10:58 | 22/11/2022 Theo dõi KTCK trên

Ghi nhận vào lúc 10h30 ngày 22/11 (theo giờ Việt Nam), giá thép hôm nay giao kỳ hạn tháng 5/2023 trên sàn giao dịch Thượng Hải ghi nhận ở mức 3.617 Nhân dân tệ/tấn. Nhiều công ty lớn trong ngành thép gồm HPG, HSG và NKG được SSI Research dự phóng lợi nhuận hồi phục trong năm 2023...

Giá thép hôm nay 18/11/2022: Nhích nhẹ!

Giá thép hôm nay 21/11/2022: Thị trường cuối năm ảm đạm

Triển vọng nào cho các "ông lớn" ngành thép trong năm 2023?

Thị trường thép công cụ Nhật Bản được dự báo sẽ tăng trưởng doanh thu từ 182,3 triệu USD vào năm 2021 lên 241,4 triệu USD vào năm 2027, tăng trưởng với tốc độ kép hàng năm (CAGR) là 4,5% trong giai đoạn dự báo từ năm 2022 - 2027.

Yếu tố chính thúc đẩy thị trường thép công cụ Nhật Bản là lĩnh vực ô tô đang phát triển và nhu cầu về thép công cụ rèn. Thép rèn có độ dẻo dai, độ bền cao và khả năng chống sốc. Do những lợi ích này của thép rèn, chúng được sử dụng trong lĩnh vực tự động hóa nhà máy, quốc phòng, ô tô và hàng không vũ trụ, thúc đẩy tăng trưởng thị trường thép công cụ Nhật Bản.

Nguồn ảnh: Internet
Nguồn ảnh: Internet

Thị trường thép công cụ Nhật Bản đang tăng do sự gia tăng các hoạt động sản xuất do tăng đầu tư nước ngoài và các sáng kiến ​​​​ngày càng tăng của chính phủ nhằm thúc đẩy lĩnh vực sản xuất của đất nước.

Theo Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản, Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba về GDP với sự đóng góp lớn từ lĩnh vực sản xuất của nước này. Ngành ô tô, cùng với một số ngành kinh doanh hàng đầu khác, chiếm khoảng 20% ​​tổng GDP trong năm tài chính 2019 – 2020.

Ngoài ra, sự tăng trưởng của ngành ô tô thể hiện triển vọng tiềm năng cho thị trường trong những năm dự báo. Lợi ích của thép công cụ là tính dẫn nhiệt, chống mài mòn mạnh, khả năng gia công kinh tế, độ cứng và chất lượng xử lý axit. Do đó, những lợi ích này làm cho thép công cụ phù hợp với lĩnh vực ô tô.

Nhật Bản là nước có ngành công nghiệp ô tô lớn thứ ba trên thế giới, sử dụng gần 5,5 triệu lao động trên 78 nhà sản xuất ở 22 tỉnh, chiếm 89% sản lượng, điều này thúc đẩy thị trường thép công cụ Nhật Bản tăng trưởng.

Tuy nhiên, sự lựa chọn ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với máy công cụ đang hạn chế sự phát triển của ngành.

Tại thị trường trong nước, ở khu vực miền Bắc, theo SteelOnline.vn, thương hiệu thép Hòa Phát kéo dài chuỗi ngày ổn định từ ngày 12/10 tới nay, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.500 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.600 đồng/kg. Thương hiệu thép Việt Ý tiếp tục bình ổn, hiện thép cuộn CB240 ở mức 14.510 đồng/kg; dòng thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.720 đồng/kg.

Thép Việt Đức với 2 dòng sản phẩm của hãng gồm dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.350 đồng/kg; còn thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.660 đồng/kg. Thương hiệu thép VAS vẫn ở mức giá bán thấp nhất trong vòng 30 ngày qua, với thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; dòng thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.410 đồng/kg.

Thép Việt Sing giữ nguyên giá bán, hiện thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.510 đồng/kg. Thép Việt Nhật, với dòng thép cuộn CB240 có giá 14.310 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 ở mức 14.510 đồng/kg.

Tại miền Trung, thép Hòa Phát tiếp tục bình ổn, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.820 đồng/kg. Thép Việt Đức, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.620 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.020 đồng/kg. Thép VAS, với thép cuộn CB240 ở mức 14.260 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.360 đồng/kg. Thép Pomina, hiện dòng thép cuộn CB240 ở mức 15.730 đồng/kg; dòng thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.940 đồng/kg.

Tại miền Nam, thép Hòa Phát không có biến động, dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.360 đồng/kg; trong khi đó, thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.570 đồng/kg. Thép Pomina, với dòng thép cuộn CB240 ở mức 15.580 đồng/kg; thép thanh vằn D10 CB300 có giá 15.680 đồng/kg. Thép VAS, dòng thép cuộn CB240 ở mức 14.310 đồng/kg; còn với thép thanh vằn D10 CB300 có giá 14.410 đồng/kg.

Lợi nhuận doanh nghiệp ngành thép sẽ ra sao trong năm 2023?

Theo đánh giá của SSI Research, nhu cầu có thể tiếp tục suy yếu ở cả kênh xuất khẩu và nội địa. Theo Hiệp hội Thép Thế giới, nhu cầu toàn cầu dự kiến sẽ giảm 2,3% vào năm 2022 trước khi phục hồi nhẹ 1% vào năm 2023. Nhu cầu tại thị trường EU, thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, dự kiến sẽ giảm thêm 1,3% vào năm 2023. Trong khi đó, tăng trưởng nhu cầu của thị trường Hoa Kỳ dự kiến sẽ giảm xuống 1,6%, từ mức 2,1% vào năm 2022.

Giá thép có thể ổn định nhờ diễn biến giá thép tại thị trường Trung Quốc. Giá thép trung bình tại Trung Quốc gần đây đã phục hồi khoảng 10% so với mức đáy vào cuối tháng 10. Điều này đến từ sự hỗ trợ của chính phủ nước này đối với thị trường bất động sản và lượng thép tồn kho của Trung Quốc giảm 50% so với mức đỉnh hồi tháng ba.

Tuy nhiên, giá thép khó có thể tiếp tục phục hồi đáng kể hơn từ mức do nhu cầu toàn cầu còn yếu. Ngoài ra, nhu cầu yếu hơn và mức dư cung cao ở thị trường trong nước có thể gây áp lực lên giá bán của các nhà sản xuất Việt Nam.

Với HSG, SSI Research dự đoán sản lượng tiêu thụ của HSG có thể giảm 20,6% xuống 1,42 triệu tấn, với sản lượng xuất khẩu giảm 42% so với cùng kỳ vào năm 2023, xuống 508 nghìn tấn, trong khi sản lượng tiêu thụ trong nước dự kiến sẽ không đổi, duy trì ở mức 913 nghìn tấn.

Giá bán bình quân sẽ giảm 28,8% so với cùng kỳ, so với mức giảm 36% so với cùng kỳ của giá HRC bình quân. Chi phí liên quan đến bán hàng dự kiến sẽ giảm 41,9% xuống 2,2 nghìn tỷ đồng do doanh số bán hàng và chi phí vận tải giảm. Theo đó, mặc dù doanh thu giảm 44% so với cùng kỳ nhưng lợi nhuận ròng trong năm 2023 dự kiến sẽ phục hồi 65% so với cùng kỳ lên 415 tỷ đồng.

Với NKG, dự kiến sản lượng tiêu thụ sẽ giảm 18,4% so với cùng kỳ xuống 884 nghìn tấn vào năm 2022 và giảm 13,7% so với cùng kỳ xuống 763 nghìn tấn vào năm 2023. Sản lượng xuất khẩu có thể giảm lần lượt 31% và 22% YoY vào năm 2022 và 2023, lần lượt xuống còn 497 nghìn tấn và 387,5 nghìn tấn.

Mặt khác, sản lượng tiêu thụ của thị trường nội địa có thể tăng 6,5% so với cùng kỳ vào năm 2022 trước khi giảm 3% xuống 376 nghìn tấn vào năm 2023. Ước tính giá bán bình quân của công ty có thể giảm 5% vào năm 2022 và 20% vào năm 2023, so với mức giảm lần lượt 4% và 25% của giá HRC bình quân trong các giai đoạn này.

Theo đó, dự báo NKG sẽ đạt doanh thu 21,9 nghìn tỷ đồng giảm 22,2% so với cùng kỳ vào năm 2022 và 15 nghìn tỷ đồng giảm 31,3% so với cùng kỳ vào năm 2023. Lợi nhuận ròng của công ty dự kiến giảm xuống mức thấp là 8 tỷ đồng giảm 99,6% so với cùng kỳ vào năm 2022 và phục hồi lên 126 tỷ đồng vào năm 2023.

Do thị trường chung đang diễn biến kém khả quan với tốc độ nhanh chóng, SSI Research cũng điều chỉnh giảm 16% ước tính lợi nhuận sau thuế năm 2022 của HPG xuống 10,2 nghìn tỷ đồng, tương ứng với khoản lỗ ròng 270 tỷ đồng trong quý 4/2022. Trong năm 2023, điều chỉnh giảm 14% ước tính lợi nhuận ròng xuống 10,88 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 6,6% so với cùng kỳ nhờ khoản lỗ chênh lệch tỷ giá và giá than cốc giảm.

Ngoài ra, chúng tôi cũng giới thiệu tới độc giả các thông tin mà nhiều người quan tâm trong lĩnh vực Kinh tế - Chứng khoán được liên tục cập nhật như: #Nhận định chứng khoán #Bản tin chứng khoán #chứng khoán phái sinh #Cổ phiếu tâm điểm #đại hội cổ đông #chia cổ tức #phát hành cổ phiếu #bản tin bất động sản #Bản tin tài chính ngân hàng. Kính mời độc giả đón đọc.

Thu Uyên (T/H)

Tin cũ hơn
Xem thêm