Công nghiệp - xây dựng trở thành động lực tăng trưởng mới của Đà Nẵng
Tăng 11,72%, công nghiệp - xây dựng giữ vai trò quan trọng, tạo lực đẩy cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đà Nẵng.
Xây dựng dẫn dắt tăng trưởng
Bức tranh kinh tế Đà Nẵng nhiều năm qua thường gắn với du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, số liệu 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy nền kinh tế đang dần hình thành cấu trúc cân bằng hơn khi công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng vượt trội, tạo thêm động lực cho tăng trưởng dài hạn.
Trong ba khu vực kinh tế, công nghiệp và xây dựng là khu vực có tốc độ tăng cao nhất với VA tăng 11,72%, vượt xa mức tăng của khu vực dịch vụ (9,31%) và nông, lâm nghiệp, thủy sản (3,27%).
.jpeg)
Đáng chú ý, ngành xây dựng tăng tới 23,28%, trở thành ngành có tốc độ tăng cao nhất trong toàn bộ nền kinh tế thành phố. Kết quả này phản ánh sự sôi động của hoạt động đầu tư xây dựng, từ các dự án hạ tầng, công trình dân dụng đến các dự án công nghiệp, đồng thời cho thấy hiệu ứng tích cực từ việc thúc đẩy đầu tư phát triển.
Ở từng nhóm hoạt động, xây dựng nhà các loại tăng 23,34%, cho thấy nhu cầu đầu tư vào nhà ở, công trình thương mại và công trình dân dụng tiếp tục mở rộng. Hoạt động xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng tăng 6,02%, trong khi xây dựng chuyên dụng tăng tới 50,39%, mức cao nhất trong ngành. Đây là tín hiệu cho thấy nhiều công trình đang bước vào giai đoạn lắp đặt thiết bị, hoàn thiện kỹ thuật và chuẩn bị đưa vào khai thác.
Sự tăng trưởng mạnh của xây dựng không chỉ góp phần mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa tới các ngành sản xuất vật liệu, vận tải và nhiều dịch vụ liên quan.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò trụ cột
Bên cạnh xây dựng, sản xuất công nghiệp cũng duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp tăng 9,02%, trong khi chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn ngành tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước.
Động lực chủ yếu vẫn đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo khi chỉ số sản xuất của ngành tăng 10,8%. Điều này phản ánh hoạt động sản xuất của doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, đơn hàng từng bước cải thiện và năng lực sản xuất được nâng lên.

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 33,9%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 26,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 24,9%; sản xuất máy móc, thiết bị tăng 16,3%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 15,7%.
Nổi bật nhất là sản xuất phương tiện vận tải khác với mức tăng 127,4%, tiếp theo là sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 109,1%. Đây đều là những ngành có tốc độ tăng trưởng ba chữ số, phản ánh nhu cầu thị trường và hoạt động sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét.
Ở nhóm ngành có quy mô lớn, nhiều lĩnh vực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định như sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 12,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,8%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 8,9%; sản xuất kim loại tăng 8,8%; chế biến thực phẩm tăng 7,8%.
Ngoài chế biến, chế tạo, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,0%, đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt. Hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%, cho thấy hạ tầng kỹ thuật đô thị tiếp tục được đầu tư đồng bộ.
Ở chiều ngược lại, ngành khai khoáng giảm 54,5%. Tuy nhiên, do quy mô ngành này không lớn trong cơ cấu công nghiệp của thành phố nên mức suy giảm không ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng chung. Diễn biến này cũng phù hợp với định hướng giảm dần khai thác tài nguyên, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành công nghệ cao.
Những con số này cho thấy cơ cấu công nghiệp của Đà Nẵng đang đa dạng hơn, không phụ thuộc vào một vài ngành sản xuất đơn lẻ.
Tăng trưởng đi cùng yêu cầu nâng cao năng suất
Dù sản xuất công nghiệp tiếp tục mở rộng, thị trường lao động trong ngành lại ghi nhận diễn biến đáng chú ý.
Chỉ số sử dụng lao động của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang từng bước nâng cao năng suất thông qua ứng dụng công nghệ, tự động hóa hoặc cơ cấu lại hoạt động sản xuất theo hướng tinh gọn hơn. Đồng thời, một số doanh nghiệp vẫn chịu tác động từ khó khăn về đơn hàng và thị trường tiêu thụ.
Ở góc độ thị trường, chỉ số tiêu thụ sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,2%, thấp hơn tốc độ tăng của chỉ số sản xuất. Trong khi đó, chỉ số tồn kho tăng 2,9% tại thời điểm cuối tháng 6. Điều này cho thấy phần lớn sản phẩm vẫn được thị trường hấp thụ, song sức cầu chưa theo kịp tốc độ mở rộng sản xuất ở một số ngành.
Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu kinh tế Đà Nẵng đã tăng từ 25,44% lên 25,78%.
Đây là tín hiệu cho thấy cùng với việc mở rộng năng lực sản xuất, doanh nghiệp cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng cường xúc tiến thương mại để cải thiện đầu ra cho sản phẩm.
Việc khu vực công nghiệp và xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của GRDP không chỉ mang ý nghĩa về quy mô mà còn phản ánh sự chuyển dịch tích cực của nền kinh tế Đà Nẵng.

Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu kinh tế đã tăng từ 25,44% lên 25,78%. Dù mức tăng chưa lớn, xu hướng này cho thấy thành phố đang từng bước củng cố nền tảng sản xuất, bổ sung thêm động lực tăng trưởng bên cạnh thế mạnh truyền thống về dịch vụ và du lịch.
Trong bối cảnh Đà Nẵng định hướng ưu tiên thu hút đầu tư vào công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, logistics và trung tâm dữ liệu, sự tăng trưởng của công nghiệp và xây dựng trong nửa đầu năm 2026 có thể xem là bước chuyển quan trọng. Nếu tiếp tục duy trì đà phát triển này cùng với việc tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư và thị trường, khu vực công nghiệp - xây dựng sẽ tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố trong những năm tới.