Người nông dân ở An Giang tìm hướng làm giàu với thứ đặc sản "trơn trượt"
Chuyển từ nuôi chế biến khô, một hộ nông dân tại An Giang đang thử cách làm mới.
Nông dân chuyển đổi mô hình, giữ nhịp sản xuất trong điều kiện giá biến động
Sau hơn 30 năm gắn bó với nghề nuôi tôm, cua, gia đình ông Tô Tấn Thành (ấp 7 Chợ, xã Đông Thái, tỉnh An Giang) đã chuyển hướng sang nuôi lươn không bùn từ đầu năm 2025.

Tận dụng diện tích đất sẵn có, ông đầu tư hơn 20 bể nuôi bằng xi măng và composite, mỗi bể khoảng 8 m², mật độ thả giống dao động khoảng 500 con/m². Hệ thống bể được bố trí gọn gàng, đảm bảo dễ theo dõi và kiểm soát môi trường nước.
“Lươn rất nhạy với môi trường. Nước dơ là ảnh hưởng ngay nên ngày nào cũng phải kiểm tra. Thấy nước đục là thay liền, cho ăn cũng phải đúng giờ”, ông Thành chia sẻ.
Nhờ tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đàn lươn phát triển ổn định, tỷ lệ sống đạt trên 80%. Sau khoảng 8 tháng nuôi, lươn đạt kích cỡ 3–4 con/kg, đủ điều kiện xuất bán. Mỗi bể cho sản lượng bình quân khoảng 2 tấn lươn thương phẩm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh giá lươn giảm còn khoảng 60.000–70.000 đồng/kg, hiệu quả kinh tế không còn như kỳ vọng của nông dân. Với mức giá này, mỗi bể mang về khoảng 120 triệu đồng/vụ, nhưng sau khi trừ chi phí con giống, thức ăn, điện nước và công chăm sóc, lợi nhuận thực tế không cao.
Theo ông Thành, khó khăn lớn nhất không nằm ở kỹ thuật nuôi mà ở đầu ra.
“Lươn chủ yếu bán cho thương lái, giá lên xuống thất thường. Có lúc bán ra gần như chỉ đủ chi phí, không có lãi”, ông nói.
Tăng giá trị bằng chế biến, giảm phụ thuộc đầu ra
Trước biến động của thị trường, gia đình ông Thành bắt đầu thử nghiệm hướng đi mới, chuyển một phần sản lượng sang chế biến khô lươn.
Lươn sau khi thu hoạch được làm sạch, xử lý nhớt kỹ, tẩm ướp gia vị rồi phơi nắng. Quy trình chế biến đòi hỏi sự cẩn trọng, đặc biệt là khâu canh nắng để đảm bảo chất lượng sản phẩm.
“Khô lươn phải phơi đủ nắng. Nắng non thì dễ hư, còn nắng gắt quá thì thịt bị cứng. Làm khô thì mình chủ động hơn, không phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái như bán lươn tươi”, bà Trần Thị Thúy Hằng – vợ ông Thành cho biết.
Theo tính toán, khoảng 5 kg lươn tươi cho ra 1 kg khô thành phẩm. Với giá bán khoảng 550.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận từ sản phẩm chế biến cao hơn so với bán lươn tươi. Đồng thời, sản phẩm khô có thể bảo quản lâu, thuận tiện vận chuyển và linh hoạt trong tiêu thụ.
Từ thực tế này, gia đình ông Thành dự kiến mở rộng thêm bể nuôi để chủ động nguồn nguyên liệu, đồng thời hoàn thiện quy trình chế biến, đóng gói và các thủ tục pháp lý liên quan. Khi các khâu này hoàn chỉnh, sản phẩm khô lươn được kỳ vọng có thể trở thành đặc sản địa phương, hướng tới xây dựng thương hiệu.
Theo ông Nguyễn Văn Mỹ, mô hình nuôi lươn không bùn kết hợp chế biến là hướng đi phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Việc chuyển từ bán nguyên liệu sang chế biến giúp gia tăng giá trị sản phẩm, đồng thời giảm phụ thuộc vào thương lái.
Hiện trên địa bàn xã Đông Thái đã có một số hộ nông dân phát triển mô hình nuôi lươn với quy mô khác nhau, bước đầu cho hiệu quả. Chính quyền địa phương đang định hướng hỗ trợ người dân tiếp cận kỹ thuật, xây dựng bao bì, nhãn hiệu và từng bước hoàn thiện sản phẩm theo chương trình OCOP.