Mô hình mới

Nuôi thứ thích "bò trườn", nông dân Nghệ An xây nên cơ ngơi hơn 6.000m², doanh thu 700 trăm triệu mỗi năm

Tuấn Anh 21/04/2026 18:00

Từ vài bể nuôi thử nghiệm, một nông dân Nghệ An đã phát triển nên mô hình làm giàu độc đáo.

Từ mô hình thử nghiệm đến trang trại nuôi lươn quy mô lớn

Tại Hợp Minh, mô hình nuôi lươn sinh sản của anh Hoàng Lượng đang trở thành một trong những hướng đi mới của nông dân trong phát triển nuôi trồng thủy sản địa phương.

Nghề nuôi lươn đẻ ấp trứng vốn được xem là lĩnh vực khó, đòi hỏi kỹ thuật cao và kinh nghiệm thực tiễn. Tuy nhiên, bằng sự kiên trì và nhạy bén, anh Lượng đã từng bước xây dựng thành công mô hình sản xuất quy mô lớn, tạo nguồn thu ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Nông dân đang kiểm tra lươn
Anh Lượng đang kiểm tra lươn

Từ năm 2018, anh bắt đầu với quy mô nhỏ, chỉ 3–4 bể bê tông nuôi lươn đẻ. Sau thời gian thử nghiệm và nhận thấy tiềm năng kinh tế, anh mạnh dạn đầu tư mở rộng. Đến nay, trang trại có diện tích hơn 6.000m², với hệ thống bể composite, bể bê tông, bể lọc nước và khu ấp trứng được đầu tư đồng bộ, tổng chi phí gần 3 tỷ đồng.

Vào thời điểm đầu tháng 4, khi thời tiết ấm lên, trang trại bước vào vụ sản xuất chính. Tại đây, các công đoạn thu trứng, ấp nở và xuất bán lươn giống diễn ra liên tục. Hệ thống vận hành theo quy trình khép kín, từ khâu sinh sản đến cung ứng con giống ra thị trường.

Theo anh Lượng, nuôi lươn sinh sản khác biệt hoàn toàn so với nuôi lươn thương phẩm. Từ việc chọn lươn bố mẹ, tạo môi trường sinh sản đến ấp trứng và chăm sóc con giống đều đòi hỏi kỹ thuật cao. Lươn đặc biệt nhạy cảm với môi trường nước, chỉ cần biến động nhỏ về độ pH hoặc chất lượng nước cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh sản.

Để tạo môi trường phù hợp, các bể nuôi được bố trí ngoài trời, phủ lục bình nhằm tái tạo điều kiện tự nhiên. Sau khi lươn đẻ, trứng được thu gom định kỳ 7–10 ngày/lần và đưa vào hệ thống ấp.

Nông dân làm chủ kỹ thuật, tạo nguồn giống và lan tỏa mô hình

Theo tính toán, mỗi con lươn mẹ có thể đẻ từ 400–500 trứng, nhưng tỷ lệ nở chỉ khoảng 30%. Vì vậy, khâu ấp trứng được xem là yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất. Nhiệt độ và độ ẩm phải được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tỷ lệ nở ổn định.

Hiện trang trại duy trì khoảng 5.000 con lươn bố mẹ, được tuyển chọn kỹ lưỡng từ những cá thể khỏe mạnh, trọng lượng trên 100g và đủ độ tuổi sinh sản. Trước mỗi vụ, lươn được nuôi vỗ từ 1–2 tháng để đảm bảo chất lượng sinh sản.

Một số bể lươn sẽ phủ cây lục bình ở trên
Một số bể lươn sẽ phủ cây lục bình ở trên

Nguồn thức ăn chủ yếu là cá tạp, trùn, tép, ốc… kết hợp thức ăn công nghiệp. Đồng thời, việc bổ sung dinh dưỡng, kiểm soát môi trường và phòng bệnh được thực hiện thường xuyên nhằm giảm rủi ro.

Sau khi nở, lươn con được chăm sóc thêm hơn 1 tháng trước khi xuất bán. Nhờ áp dụng phương pháp sinh sản bán nhân tạo, lươn giống có kích cỡ đồng đều, sức đề kháng tốt và phù hợp với điều kiện nuôi thương phẩm.

Mỗi năm, trang trại cung ứng gần 250.000 con giống ra thị trường. Với giá bán khoảng 3.000 đồng/con, doanh thu đạt khoảng 700 triệu đồng, lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng sau khi trừ chi phí.

Không chỉ dừng lại ở sản xuất, anh Lượng còn hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật cho nhiều hộ dân có nhu cầu. Việc này góp phần hình thành mạng lưới nuôi lươn tại địa phương, giảm sự phụ thuộc vào nguồn giống từ các tỉnh phía Nam.

Thực tế, ông Trần Văn Hùng cho biết, trước đây người nuôi phải nhập giống từ xa với chi phí cao và rủi ro lớn. Việc có nguồn giống tại chỗ giúp giảm chi phí và tăng tính chủ động trong sản xuất.

Theo đánh giá của chính quyền địa phương, mô hình nuôi lươn sinh sản của anh Hoàng Lượng là hướng đi mới, có hiệu quả kinh tế và tiềm năng nhân rộng. Đại diện UBND xã Hợp Minh cho biết, dù toàn xã có hơn 200 hộ tham gia chế biến lươn thương phẩm, nhưng mô hình nuôi lươn sinh sản mới chỉ có một hộ triển khai thành công.

Tuấn Anh