Nông dân Quảng Ngãi trở lại với nghề "nong kén", thu nhập gấp nhiều lần mía bắp, mở ra hướng nông nghiệp mới
Nghề truyền thống đang hồi sinh mạnh khi nông dân Quảng Ngãi áp dụng kỹ thuật mới, giảm chi phí và nâng cao thu nhập.
Từ nghề truyền thống bị mai một đến sự trở lại mạnh mẽ của những nong kén ven sông Trà Khúc
Từng có thời gian dài mai một, nghề nuôi tằm ở xã Nghĩa Giang (tỉnh Quảng Ngãi) đang bước vào giai đoạn hồi sinh mạnh nhờ hiệu quả kinh tế cao và sự thay đổi trong kỹ thuật sản xuất. Thôn Nam Phước – nơi nằm dọc dòng sông Trà Khúc với đất phù sa màu mỡ từng là “cái nôi” của nghề tằm tang lâu đời. Người dân nơi đây gắn bó với những nong kén qua nhiều thế hệ, nhưng từ năm 2004, nghề gần như biến mất khi việc nuôi tằm thủ công tốn nhiều công sức, chi phí cao mà giá tơ tằm lại bấp bênh. Những ruộng dâu trứ danh dọc bờ sông dần bị thay thế bởi mía, bắp và các loại cây trồng khác.

Sự im ắng kéo dài gần hai thập kỷ cho đến khi anh Tôn Long Quý – người con của vùng đất này nhận ra cơ hội hồi sinh nghề truyền thống trong những chuyến tham quan tại Lâm Đồng năm 2022. Nhận thấy nuôi tằm lấy tơ đang phát triển mạnh, giá kén ổn định và đầu ra thuận lợi, anh trở về quê, quyết tâm khôi phục nghề cũ. Cuối năm 2022, anh thử nghiệm nuôi tằm trên diện tích nhỏ, chỉ có hai hộ cùng tham gia. Hiệu quả kinh tế rõ rệt sau một năm khiến nhiều hộ dân chú ý và bắt đầu chuyển đổi đất trồng sắn, ngô, mía sang trồng dâu. Đến nay, toàn thôn có 12 hộ nuôi tằm với khoảng 3 ha trồng dâu và đang dần thay thế những ruộng mía khô cằn trước kia.
Theo anh Quý, kỹ thuật nuôi tằm hiện đại giúp nông dân giảm đáng kể công sức. Thay vì nuôi bằng nong truyền thống, tằm được nuôi trên nền đất thoáng, sạch; chuồng trại cũ được tận dụng lại, giảm chi phí đầu tư. Người nuôi không còn phải ấp trứng mà có thể mua tằm giống khỏe mạnh từ cơ sở uy tín, tăng tỷ lệ thành công và giảm rủi ro bệnh tật.
Quy mô phổ biến hiện nay là nuôi theo hộp giống, mỗi hộp có khoảng 35.000 con tằm, cần khoảng 5 sào dâu (tương đương 2.500 m²) để đảm bảo nguồn lá. Tằm lớn nhanh, chỉ sau khoảng 15 ngày là cho thu hoạch. Mỗi hộp giống cho trung bình 40 kg kén, với giá kén dao động 180.000 – 190.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí người nuôi lãi 5 – 6 triệu đồng/đợt. Một tháng có thể nuôi 2 lứa, tạo nguồn thu nhập khá ổn định.
Anh Hoàng Ngọc Quân (một hộ trồng 8 sào dâu và xây dựng khu nuôi 40 m²) cho biết gia đình thu nhập 10 triệu đồng/tháng từ nghề nuôi tằm. Trước đây, 8 sào mía hay bắp cả năm chỉ lãi khoảng 6 triệu đồng, trong khi nuôi tằm hiệu quả cao hơn nhiều lần.
Hiệu quả 200 triệu đồng/ha mỗi năm và kế hoạch khuyến nông mở rộng quy mô nghề truyền thống
Kinh nghiệm của anh Quý cho thấy kỹ thuật nuôi tằm không quá phức tạp, chỉ cần tập trung vào 5 ngày cuối trước khi tằm vào kén – giai đoạn tằm ăn mạnh, cần chăm sóc kỹ. Chi phí đầu tư mỗi đợt nuôi khá thấp: 1 hộp giống khoảng 750.000 đồng, thuốc và vôi xử lý vệ sinh khoảng 100.000 đồng. Rủi ro thời tiết nếu xảy ra cũng không gây thiệt hại lớn. Quan trọng nhất là giữ nơi nuôi khô thoáng, sạch sẽ, ổn định nhiệt độ và tránh ánh nắng trực tiếp.
Không chỉ người dân mà chính quyền xã Nghĩa Giang cũng đánh giá cao tiềm năng phát triển của nghề truyền thống. Ông Lê Thanh Trà – cán bộ khuyến nông, Trung tâm Cung ứng Dịch vụ công xã cho biết mô hình nuôi tằm ở Nam Phước đang cho hiệu quả rất cao. Với 1 ha dâu, sau khi trừ chi phí, nông dân có thể thu lãi khoảng 200 triệu đồng/năm, vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác.
Nhằm khuyến khích mở rộng mô hình, đầu năm 2026 địa phương sẽ triển khai chương trình khuyến nông chuyên sâu, bao gồm tập huấn kỹ thuật nuôi tằm, chăm sóc dâu, bổ sung giống dâu năng suất cao và kết nối doanh nghiệp thu mua kén ổn định. Đây được kỳ vọng là bước thúc đẩy quan trọng giúp nghề tằm tang phục hồi bền vững, tạo sinh kế lâu dài cho người dân.
Sự trở lại của nghề nuôi tằm ở Nghĩa Giang không chỉ mang lại thu nhập cao mà còn giúp giữ gìn một phần văn hóa lâu đời của địa phương. Từ những nong kén truyền thống đến mô hình nuôi tằm hiện đại, người dân đang từng bước khẳng định lại giá trị của nghề cũ, mở ra hướng đi mới cho nông nghiệp địa phương trong bối cảnh biến đổi sinh kế.